Phan Minh Chánh | Tin tức | Danh nhân vật lý | Williams Thomson- Huân tước Kelvin
 Thứ bảy, ngày 25 tháng 11 năm 2017   TIN MỚI: 
 

Tin tức » Danh nhân vật lý 25.11.2017 21:53
 
Di chuyển nút trượt để tăng cỡ chữ
Williams Thomson- Huân tước Kelvin
[ 23.04.2009 08:12 | 5402 lần đọc ]

Xem hình
Williams Thomson- Huân tước Kelvin
(1824-1907)Con người được số phận ưu đãi
Cũng như Micheal Faraday, người đồng hương danh tiếng của mình, Williams Thomsons là con ng ười hết lòng say mê khoa học, thông minh xuất chúng, một nhà thực nghiệm tài năng, một nhà bác học có nhiều đóng góp xuất sắc, là niềm tự hào của nước Anh, quê hương ông.

Tuy nhiên, nếu Faraday đến với khoa học bằng một con đường đầy trắc trở, luôn phải đấu tranh với cảnh nghèo túng, tìm kiếm tri thức bằng con đường gian nan, con người phải tự mình mở đường mà đi, thì Thomson lại như lúc nào cũng có “quý nhân phù trợ”, vững bước đi trên con đường khoa học đầy hoa hồng, bằng một con đường đã được dọn sẵn, trọn đời sống trong sự yeu mến, kính nể và là mộ trong số it những nhà khoa học được hưởng vinh quang trọn đời.
Gia đinh Thomson thuộc gốc Scotland, đã sang sinh sống ở Benphat( Bắc Ailen). Williams Thomson sinh năm 1824 tại Benphat, khi lên 6 tuổi thì mẹ mất, năm sau gia đình trở về Scotland. Bố cậu, ông James Thomson, được nhận làm giáo sư Toán trường đại học Glassgow.
Năm lên 8 tuôi, Williams theo bố đến lớp học, ngồi nghe bố giảng bài. Năm 10 tuổi, cậu chính thức được nhận là sinh viên của trường, cùng với anh tuột khi đó 12 tuổi. Có những lúc ông bố đặt ra một câu hỏi hóc búa, cả lớp còn dang ngồi cắn bút thì đã thấy tiếng cạu bé van nài: “Bố cho con trả lời đi nào, con xin bố, cho con trả lời đi!” Và câu trả lời gãy gọn, chính xác của cậu bé làm cho nhiều bạc đàn anh trong lớp rất tức tối.
Khi 15 tuổi, Wlliams Thomson đã có những bài báo khoa học được công bố. mộ trong số những bài báo đó, cậu phê phán những công trình của Kenlan, giảo sư trường đại học Edinburg. Ông không thấy đó làm giận, mà còn viết thư gửi cho bố của Wlliams Thomson “…Những công trình của con trai ông chẳng bao lau nữa sẽ đưa cậu ấy lên ngang tầm các nhà Toán học châu Âu”.
Tuy vậy Wlliams Thomson không phải là con nguwowif chỉ biết vùi đầu vào sách vở. Khi còn học ở Scotland, những buổi đi lễ nhà thờ hai anh em cậu còn ngấm ngầm đùa nghịch và cười khúc khích khiến cha đạo phải bực mình. Học xong ở Glassgow, Wlliams Thomson được đi học thêm ở trường đại học Cambridge. ở đó, chàng sinh viên Wlliams Thomson là người chơi kèn đồng trong ban nhạc của trường, và cũng là một vận động viên bơi sải loại xuất sắc. Sau này, khi đã là giáo sư Thomson, ông thường mang kèn đồng vào lớp thổi để minh họa tính chất của âm thanh trong giờ dạy về âm học, khiến các sinh viên vô cùng thích thú. Mỗi khi trở lại trường ĐH Cambridge, ông lại tham gia biếu diễn trong ban nhạc hoặc trong đội bơi sải của trường.
Nhà sư phạm lỗi lạc
Năm 22 tuổi, Wlliams Thomson được cử làm giáo sư trường ĐH Glassgow, giữ chức vụ chủ nhiệm bộ môn Vật lý ở trường suốt 53 năm, từ năm 1846 đến năm 1899.
Khi đó bộ môn Vật lý học còn được gọi là bộ môn triết học tự nhiên. Sinh viên học môn Triết học tự nhiên là những người được đào tạo trở thành các luật gia, các bác sĩ, và chủ yếu là các tu sĩ. Họ học Triiets học tự nhiên chỉ vì đó là một trong những môn thi để được nhận bằng tốt nghiệp.
Lúc tới nhậm chức Wlliams Thomson thấy tình hình bộ môn Vật lý ở đây thực sự bi đát. Các dụng cụ thí nghiệm đều cổ lỗ, phần lớn được chế tạo từ hơn 100 năm trước. Chúng được dùng để làm thí nghiệm biểu diễn, minh học cho bài giảng trên lớp. Ở đây thầy hoàn toàn không làm công tác nghiên cứu, trò không làm thí nghiệm thực hành.
Wlliams Thomson nhanh chóng lắp ráp một số dụng cụ để làm thí nghiệm nghiên cứu tính chất động lực học của các chất. Ông mới một vài sinh viên đến phụ việc cho ông. Họ vui vẻ đến Phòng thí nghiệm(PTN) , lúc đầu chỉ do tò mò, muốn sử dụng thời gian rảnh rỗi một cách thú vị. Họ đã không thất vọng, và công tác nghiêm cứu bắt đầu cuốn hút họ. Nhiều sinh viên khác thấy bạn mình làm công tác nghiên cứu, cũng tự nghuyện xin tham gia. Không còn việc gì để giao cho họ trong phạm vi đề tài của mình, Wlliams Thomson đã cố tìm mọi cách để nêu lên những đề tài nhỏ khacsvafthu hút họ vapfcác nhóm nghiên cứu.
Lúc đầu nhà trường dành cho họ mấy giảng đường cũ để làm PTN. Nhưng khi số SV tình nguyện lên tới vài chục người và tiếp tục tăng thêm, Wlliams Thomson đã phải xin trường cho thêm một căn hầm cũ, trước dùng để chứa rượu vang, nay đã bỏ không và một phần căn nhà tập thể cũ của các giáo sư, nay sửa thành lớp học. Những căn phòng chắp vá, cũ kĩ như vậy đã là PTN của giáo sư Thomson trong suốt hơn 20 năm. Wlliams Thomson đặt mua thêm dụng cụ thí nghiệm ở nước ngoài. Đồng thời ông của tự tay thiết kế các dụng cụ mới và chỉ đạo xưởng trường chế tạo các dụng cụ đó. Một giáo sư nổi tiếng ở trường ĐH Edinburg đã viết: “Ở Glassgowtroong điều kiên không thuận lợi bằng các PTN của tôi, các SV của Thomsontrong mấy năm nay đã thực hiện được nhiều công trình nghiên cứu tuyệt vời”.
Năm 1870, trường ĐH Glassgow chuyển sang một trụ sở mới tuyệt hảo, ở đó có những PTN nghiên cứu rộng rãi và khang trang. PTN và nhà của Thomson là những nơi đầu tiên của nước Anh được thắp sáng bằng điện. Xưởng trường đã phát triển thành một nhà máy nhỏ, chiếm hẳn một tòa nhà nhiều tầng. Xưởng trường và PTN của Thomson được nối với nhau bằng dây điện thoại đầu tiên của nước Anh. Wlliams Thomson thường xuyên lui tới xưởng trường để bàn bạc và chỉ đạo công việc. Khi đi công cán nơi xa, ông vẫn luôn giữu liên lạc với trường bằng thư từ và điện tìn để theo dõi và chỉ đạo công việc nghiên cứu ở nhà. Wlliams Thomson rất gắn bó với trường ĐH Glassgow. Ông đã được mời giữ những chức vụ quan trọng hơn, như giám đốc PTN Cavendish (có uy tín nhất thế giưoif lúc bấy giờ), hoặc hiệu trưởng trường ĐH Edinburg, nhưng ông đều từ chối.
Nhiều sinh viên của Thomson cũng rất gắn bó với thầy. Có tới ¾ số sinh viên của ông đã trở thành các tu sĩ, nhưng nhiều người trong số họ tiếp tục theo đuổi sự nghiệp khoa học, và trở thành những nhà Vật lý nghiệp dư.
John Kerer là một trong số các SV tình nguyện giúp Thomson xây dựng PTN khi ông mới tới Glassgow. Sau khi tốt nghiệp, Kerer đã trở thành một cha đạo cai quản nhà thờ ở Scotland, nhưng vẫn giữ quan hệ với thầy và tiếp tục theo đổi Vật lý học. Cuối cùng, Vật lý học có sức cuốn hút mạnh liệt hơn, Kerer đã từ bỏ việc thờ phụng chúa và trở thành một nhà bác học, một người bạn thân thiết suốt đời của Thomson. Kerer đã nổi tiếng về một phát minh quan trọng gọi là hiệu ứng Kerer: trong một điện môi trong suốt đặt trong điện trường, tia sáng khúc xạ bị tách thành hai tia.
Nhà bác học nhiều tài năng
Hoạt đông khoa học cuat Thomson hết sức phong phú và đã dạng. Ông đã có những đóng góp quý giá trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau: nhiệt động lực học, điện báo, thủy động lực học, hàng hải, điện học, từ học, nhiệt học. Không những tiến hành các nghiên cứu lí thuyết, ông còn khảo sát cả mặt kĩ thuật, và giải quyết nhiều vấn đề kĩ thuật một cách sắc sảo. Các nhà khoa học đương thời coi ông là nhà Vl và nhà kĩ thuật điện vĩ đại nhất thế giới. Tiền bản quyền sáng chế và tiền thù lao về tư vấn kĩ thuật mà ông thường xuyên nhận được còn lớn hơn lương của giáo sư, khiến ông sống một cuộc đời thoải mái, chia sẻ giữa nghiên cứu khoa học và du lịch khắp đó đây, và đã có thể mua cho riêng mình một du thuyền cỡ lớn, đắt tiền.
Khi còn trẻ, ông đã suy nghĩ đến khả năng truyền tín hiệu đi xa bằng điện. Ông đã tham gia chiến dich dặt đường dâydieenj báo xuyên Đại Tây Dương từ Anh sang Mỹ. năm 1858, đường dây đã đặt xong và truyền đi bản điện báo đầu tiên. Nhưng chưa được 1 tháng, đường dây cáp đã hỏng.
Thomson bắt tay vào tính toán lại để thiết kế một đường daaycasp khác. Ông đã thực hiện rất nhiều phép đo điện trowrvaf điện dung, sáng chế ra nhiều kiểu máy phát tiến hiệu khác nhau, thiết kế nhiều kiểu điện kế rất nhạy ghi được tín hiệu điện rất yếu. Ông hay đi tàu ra ngoài biển để theo dõi công việc và kiểm tra lại những giải pháp kĩ thuật của mình. Năm 1866, một đường dây mới được hoàn thành và đã hoạt động ổn định. Đồng thời với công trình kĩ thuật đồ sộ này, Thomson đã góp phần đáng kể vào việc xây dựng hệ đơn vị đo điện và từ.
Để ghi nhớ công lao to lớn này, Hội đồng thành phố Glassgow đã bầu Thomson làm công dân danh dự của thành phố, và phong tước Hiệp sĩ cho ông.
Trong những chuyến đi khảo sát ra biển, Wlliams Thomson có dịp quan sát công việc của người thủy thủ. Ông quan tâm đến những vấn đề cảu hàng hải, tìm cách giải quyết những khó khăn để việc điều khiển con tàu được chính xác và an toàn. Ông đã phát minh ra nhiều dụng cụ hàng hải, trong đó có dụng cụ đo độ sâu (bằng hiệu ứng tiếng vọng) và thủy triều kí (tự ghi mứa thủy triều). Quan trọng hơn là ông đã cái tiến la bàn đi biển một cách cơ bản.
Trước đó, la bàn đi biển là một dụng cụ rất thô sơ và thiếu chính xác. Sự tròng trành của con tàu và cách bố trì các đồ vật, các khí cụ trên tàu làm ảnh hưởng đến vị trí của kim nam châm. Thomson đã tìm ra những biện pháp hữu hiệu để loại trừ các ảnh hưởng đó, làm cho la bàn đạt đố chính xác caovà bảo đảm sự an toàn của con tàu. Một sĩ quan hàng hải đã nói: “ Từ nay, mỗi thủy thủ tối nào cũng phải cầu nguyện cho ngài Thomson”.
Trong lĩnh vực điện từ và nhiệt điện, Wlliams Thomson cũng có những phát minh quan trọng. Sau này Joseph John Thomson (không có họ với Wlliams Thomson ) đã nói: “ Vô tuyến điện báo, vô tuyến điện thoại, vô tuyến truyền thanh ngày nay đều phụ thuộc vào những kết quả nghiên cứu mà Wlliams Thomson đã công bố năm 1853” Trong công trình đó, Wlliams Thomson đã tìm ra nghiệm của phương trình cường độ dòng điện của mạch dao động tắt dần. Trong đó, trường hợp riêng, khi trường hợp mạch dao động tắt dẫn rất chậm, tần số sao động của mạch được xác định bới một công thức hiện nay được gọi là công thức Thomson:
2pf0 = 1/sqrtLC
Để ban thưởng cho Thomson, Nữ hoàg Anh phong cho ông danh vị cao quý Huân tước. Trước đây, người được phong danh vị Huân tước cũng được triều đình phong đất, và lấy tên đó làm tên gọi cho mình. Lúc này nước Anh đang công nghiệp hóa, Nữ hoang Anh không có đất để phong cho ông, nhưng ông được quyền chọn cho mình một tên gọi. Ông cùng những người thân bàn bạc, và nửa đùa nửa thật cân nhắc xem nên lấy là huân tước Dây cáp hay Huân tước La bàn. Cuối cùng ông đã chọn tên dòng sông Kelvin chảy ngay bên cạnh trường ĐH Glassgow, nơi ông gắn bó hầu như cả cuộc đời mình. Và từ nay, mọi người gọi ông theo dnah hiệu quý tộc là Huân tước Kelvin.
Nhiệt động lực học và thang nhiệt độ Kelvin
Nhiệt động lực học được xây dựng do công lao của nhiều nhà khoa học, trong đó Thomson đóng vai trò nổi bật.
Từ đầu thế kỉ XIX, Carnot đã chứng minh rằng muốn cho một động cơ nhiệt hoạt động được, phải có sự truyền nhiệt từ nguồn nóng sang nguồn lạnh. Khi tác nhân thu một lượng nhiệt Q1 từ nguồn nóng, nó sinh một công bằng A, và hiệu suất H của động cơ khi đó là:
H=A/Q1
Làm thế nào để tăng được hiệu suất H? Carnot không tìm được công thức cụ thể tính H, nhưng ông chứng minh được rằng H bao giờ cũng nhỏ hơn 1 giá trị H0 nào đó do nhiệt độ nguốn nóng và nguồn lạnh xác định. Giá trị H0 được gọi là giá trị hiệu suất của một động cơ nhiệt lý tưởng, tức là một động cơ nhiệt mà ta chỉ có thể hình dung được, nhưng không chế tạo được.
Dựa vào định luaatj bảo toàn và chuyển hóa năng lượng được phát minh vào đầu những năm 40, Claudeuse và Thomson đã chứng minh rằng một động cơ nhiệt hoạt động, tác nhân thu được từ nguồn nóng nhiệt lượng Q1 và truyền cho nguồn lạnh nhiệt lượng Q2, công mà nó sinh ra đúng bằng A=Q1-Q2 Do đó, hiệu suất của đọng cơ nhiệt được xác đinh bởi công thức:
H=(Q1-Q2)/Q1
Claudeuse và Thomson cũng đã tìm ra được công thức tính hiệu suất của động cơ nhiệt lý tưởng. Gọi T1 là nhiệt độ nguồn nóng và T2 là nhiệt độ nguồn lạnh, ta có:
H0= (T1-T2)/T1
Như vậy, với mọi động cơ nhiệt, ta đều có:
H=(Q1-Q2)/Q1 ≤ (T1-T2)/T1
Công thức đó hiện nay được gọi là công thức Carnot, hoặc công thức của định lý Carnot, nhưng Wlliams Thomson mới là người tìm ra nó.
Ở thời của Thomson, các nhà khoa học đã đề xuất hơn chục thang nhiệt độ khác nhau, mỗi thang dữa vào sự nở vì nhiệt của một chất cụ thể nào đó (nước, rượu, thủy ngân) gọi là vật nhiệt biểu. Vì vậy một nhiệt độ cụ thể cần đođược xác định bằng những số đo khác nhau khi dùng các thang nhiệt độ khác nhau.
Công thức trên áp dụng cho mọi loại động cơ nhiệt khác nhau, với mọi loại tác nhân. Các nhiệt độ T1,T2 là những nhiệt độ tuyệt đối, chung không phụ thuộ vào vật nhiệt biểu được chọn. Thomson tìm cách xay dựng một thang nhiệt độ tuyệt đối có thể dung để xác định mức độ nóng lạnh của mọi vật mà không phụ thuộc vào một vật nhiệt biểu cụ thể nào.
Nhưng khảo sát của Thomson đã chứng minh rằng có thể dùng nhiệt kế khí để thành lập thang nhiệt độ tuyệt đối. Nếu thể tích chất khí trong nhiệt kế khí là không đổi thì áp suất của nó tỉ lệ với nhiệt độ tuyệt đối của nó khá chính xác. Ta viết được:
P1/P2=T1/T2
Chất khí trong nhiệt kế càng giống như khí lí tưởng thì hệ thức trên càng chính xác. Đó là các chát khí có khối lượng nguyên tử nhỏ như H2, He.
Trong thang nhiệt độ như vậy, T=0 ứng với p=0, nhiệt độ T=0 là nhiệt độ khối khí bất kì có áp suất bằng 0. nó được gọi là nhiệt độ 0 tuyệt đối, không thể có nhiệt độ nào thấp hơn nó vì áp suất của một khối khí không thể nào nhỏ hơn 0.
Để ghi nhớ công lao của Thomson, thang nhiệt độ tuyệt đối như trên được gọi là thang nhiệt độ Kelvin. Trong hệ đơn vị quốc tế SI, đơn vị đo nhiệt độ cũng được gọi là Kelvin (K).
Trong nhiệt động lực học, người ta nhất loạt sử dụng thang nhiệt độ Kelvin trong mọi phương trình, công thức. Trong đời sống hàng ngày, theo thói quen, người ta vẫn sử dụng thang nhiệt giai Celcius. Nhiệt độ 0 tuyệt đối T=0 độ K ứng với nhiệt độ t=-273.15 độC.
Sự thành lập nhiệt giai Kelvin được coi là một đóng góp lớn của Thomson, Huân tước Kelvin đối với nhiệt động lực học và Vật lý học nói chung.
Wlliams Thomson là mộ trong những nhà khoa chọ hiếm hoi được hưởng được hưởng vinh quang trọn vẹn trong suốt cuộc đời mình.
+Năm 22 tuổi, ông là Giáo sư trường ĐH Glassgow, và là thành viên Hội hoàng gia Edingurrg
+Năm 27 tuổi là Hội viên Hội hoàng gia London (Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học nước Anh)
+Năm 31 tuổi, ông được tặng huy chương Hoàng gia của Hội hoàng gia London và sau đó được tặng nhiều huy chương khoa học khác nữa.
+Năm 49 tuổi ông là chủ tịch Hội hoàng gia Edinburg, và sau còn giữ chức vụ này 2 lần nữa.
+Năm 66 tuôi, ông là chủ tịch  Hội hoàng gia London.
+Năm 80 tuổi trường ĐH Glassgow bầu ông làm chủ tịch của trường. Đây là chức danh cao quý dành cho những người có công lao lớn với nhà trường.]

Huân tước Kelvin mất năm 83 tuôi, khi đang giữ chức vụ chủ tịch Hội hoàng gia Edinburg. Ông được an tàng tại tu viện Westminster, nơi chôn cất nhiều danh nhân của nước Anh.
Tổng hợp tin từ Internet



Tin liên quan:
Nhà ảo thuật vật lý [10.03.2015 16:41 | 21167 lần đọc]
10 phát minh nổi tiếng của Isaac Newton [06.05.2014 15:21 | 26769 lần đọc]
20 sự thật về Albert Einstein [20.02.2014 17:05 | 28778 lần đọc]


Những bản tin khác:
 Nhà ảo thuật vật lý [10.03.2015 16:41 | 21167 lần đọc]
 10 phát minh nổi tiếng của Isaac Newton [06.05.2014 15:21 | 26769 lần đọc]
 20 sự thật về Albert Einstein [20.02.2014 17:05 | 28778 lần đọc]
 10 điều nên học từ Albert Einstein [21.11.2013 15:57 | 27067 lần đọc]
 Isaac Newton (1642-1727) [29.09.2013 22:47 | 32374 lần đọc]
 Những ý tưởng đặc biệt của Franklin [27.01.2013 03:45 | 34712 lần đọc]



Gửi tin
Lên đầu trang
DANH MỤC  

Chuyên đề
Tư liệu

Danh nhân
VL lý thú

Ebook
Web hay

Giáo trình
Luyện thi

Video
Mô phỏng

PPT
Đề thi

CNTT
Chuyện vui

Du lịch
Ẩm thực
Tài liệu 

Mở tất cà | Đóng tất cả
Physics formulas 
Tin liên quan 
Giải Nobel Vật Lý 2017 được trao cho việc dò tìm sóng hấp dẫn Giải Nobel Vật Lý 2017 được trao cho việc dò tìm sóng hấp dẫn

Rainner Weiss, Barry Barish và Kip Thorne chia nhau giải thưởng cho đóng góp của họ ở LIGO.
Giải Nobel Vật Lý 2016 được trao cho 3 nhà khoa học phát hiện ra "đặc tính kỳ lạ" của vật chất rắn Giải Nobel Vật Lý 2016 được trao cho 3 nhà khoa học phát hiện ra "đặc tính kỳ lạ" của vật chất rắn

Bộ ba nhà khoa học David Thouless, Duncan Haldane và Michael Kosterlitz đã được đồng trao giải thưởng Nobel Vật Lý 2016 cho công trình nghiên cứu khám phá ra cấu trúc hình học không gian của chuyển pha đa hình và trạng thái vật chất.
Einstein: "Logic sẽ đưa chúng ta từ điểm A đến điểm B. Trí tưởng tượng sẽ đưa chúng ta tới mọi nơi" Einstein: "Logic sẽ đưa chúng ta từ điểm A đến điểm B. Trí tưởng tượng sẽ đưa chúng ta tới mọi nơi"

Những câu nói này thực sự là bài học quý giá cho mỗi người chúng ta.
Khám phá các dao động neutrino giành Giải Nobel Vật lí 2015 Khám phá các dao động neutrino giành Giải Nobel Vật lí 2015

Giải thưởng Nobel Vật lí 2015 công nhận Takaaki Kajita người Nhật Bản, và Arthur B. McDonald người Canada, cho những đóng góp chủ chốt của họ cho các thí nghiệm chứng minh rằng các neutrino thay đổi các đặc trưng nhận dạng. Sự biến đổi này đòi hỏi các neutrino có khối lượng. Khám phá của họ đã làm thay đổi nhận thức của chúng ta về những nguyên lí vận hành sâu xa nhất của vật chất và có thể đặt cơ sở thiết yếu cho quan niệm của chúng ta về vũ trụ.
Nhà ảo thuật vật lý Nhà ảo thuật vật lý

Báo The New York Times tôn vinh Lewin là "Ngôi sao của Web" (Web Star). Những "sinh viên" theo dõi bài giảng của Lewin qua mạng thường gọi ông là "Nhà ảo thuật vật lý" (Physics Magician).
Andre-Marie Ampere - Nhà phát minh ra điện từ trường Andre-Marie Ampere - Nhà phát minh ra điện từ trường

Andre-Marie Ampere (20 tháng 1, 1775 – 10 tháng 6, 1836) là nhà vật lý người Pháp và là một trong những nhà phát minh ra điện từ trường và phát biểu thành định luật mang tên ông (định luật Ampere). Đơn vị đo cường độ dòng điện được mang tên ông là ampere.
10 phát minh nổi tiếng của Isaac Newton 10 phát minh nổi tiếng của Isaac Newton

Nếu nhắc tới nhà phát minh vĩ đại người Anh Isaac Newton (1642-1727), chắc hẳn tất cả chúng ta đều nghĩ ngay đến quả táo rơi đã làm nên thuyết vạn vật hấp dẫn nổi tiếng.
20 sự thật về Albert Einstein 20 sự thật về Albert Einstein

Einstein là một cậu bé chậm phát triển, mắc chứng tự kỷ, từng thi trượt toán, suy nghĩ bằng hình ảnh thay vì bằng lời nói… đó có phải là một số sự thật về người đàn ông được mệnh danh là thông thái nhất thế giới? Tất cả đã được tiết lộ trong cuốn sách “Einstein: Cuộc đời và Vũ trụ” của Walter Isaacson.
Những nhà khoa học vĩ đại hy sinh thân mình vì sự nghiệp Những nhà khoa học vĩ đại hy sinh thân mình vì sự nghiệp

Phần lớn trong số này là những nhà khoa học nổi tiếng, phát minh của họ đã làm thay đổi thế giới, song bản thân họ lại phải gánh chịu những hậu quả nặng nề trong khi tiến hành các thử nghiệm khoa học, thậm chí có người còn bị thiệt mạng hay phải mang thương tật suốt đời, tiêu biểu có 10 nhà khoa học tiên phong dưới đây.
Tuyển tập những phát minh hay ho nhưng thất bại của Edison Tuyển tập những phát minh hay ho nhưng thất bại của Edison

Thomas Edison (1847 - 1931) được coi là một trong những nhà phát minh vĩ đại nhất thế kỷ XX. Những sáng kiến của ông đem đến cho nhân loại nhiều bước tiến quan trọng. Nhưng bên cạnh đó, cũng không ít các sản phẩm mà ông làm ra lại nhận gặp phải sự thất bại vô cùng cay đắng.

 Giải Nobel Vật Lý 2017 được trao cho việc dò tìm sóng hấp dẫn  Những đoạn clip hay hỗ trợ giảng dạy bộ môn Vật lý tham khảo  LP_TestDesign - Chương trình sọan thảo, trộn đề trắc nghiệm.  Khoa học vũ trụ: Hành tinh nghiêng xoay quanh các ngôi sao nhỏ khó có thể tồn tại sự sống  10 loại chất liệu "thần kỳ" thách thức mọi định luật vật lý  Giải Nobel Vật Lý 2016 được trao cho 3 nhà khoa học phát hiện ra "đặc tính kỳ lạ" của vật chất rắn  Con người có thể du hành ngược thời gian ?  Con người có thể du hành ngược thời gian ?  Einstein: "Logic sẽ đưa chúng ta từ điểm A đến điểm B. Trí tưởng tượng sẽ đưa chúng ta tới mọi nơi"  Hành trình tìm ra sóng hấp dẫn  Sóng hấp dẫn - phát hiện thế kỷ của nhân loại  Lời giải thích mới cho việc thời gian không quay ngược lại  So sánh lực hấp dẫn của các hành tinh trong Hệ Mặt Trời  Những lầm tưởng khoa học "chuẩn" nhưng cần phải "chỉnh"  Qtespro - Phần mềm luyện thi trắc nghiệm vậy lý  Định nghĩa chính xác về ánh sáng  Khám phá các dao động neutrino giành Giải Nobel Vật lí 2015  Làm thế nào xe đạp có thể đứng thẳng mà không bị ngã?  Đố bạn làm được: kéo rời 2 cuốn sách đan xen nhau  Các tấm pin mặt trời hoạt động như thế nào?  Khoa học lý giải sự ảnh hưởng của hiện tượng Nguyệt thực đến con người  Tia Gamma (Ɣ)- Khám phá nguồn gốc của Tia Gamma  Nhà ảo thuật vật lý  Chụp được hình ảnh đầu tiên trong lịch sử tính chất lưỡng tính sóng hạt của ánh sáng  MindMup và Creately - Công cụ vẽ sơ đồ tư duy trực tuyến  Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đi xuyên qua tâm Trái đất?  Những bí ẩn của Hệ Mặt Trời-P2  Những bí ẩn của Hệ Mặt Trời  Andre-Marie Ampere - Nhà phát minh ra điện từ trường  Phần mềm luyện thi Vật Lý chất lượng cao Fomica 
Website thiết kế trên hệ thống NukeViet 2.0 - Phát triển từ Mã nguồn PHP-NUKE
Lưu hành theo giấy phép của GNU/GPL
---»«---
Thiết lập và quản trị : Phan Minh Chánh
THPT Chơn Thành - Bình Phước - ĐT : 0908742177 - Email : minhchanh@vtic.vn
---»«---
Lên đầu trang